Suy niệm Bài đọc 2 - Chúa Nhật III Phục Sinh năm A - 1Pr 1,17-21 - Sống như con thảo

0 /5
1 người đã bình chọn
Đã xem:  | Cật nhập lần cuối:2026-04-18 10:14:28  | RSS

CHÚA NHẬT III PS 19/04/2026

BÀI ĐỌC II: 1Pr 1, 17-21

Bài trích thư thứ nhất của Thánh Phê-rô Tông đồ

17 Thiên Chúa là Đấng không vị nể ai, nhưng cứ theo công việc mỗi người mà xét xử. Vậy nếu anh em gọi Người là Cha, thì anh em hãy đem lòng kính sợ mà sống cuộc đời lữ khách này.

18 Anh em hãy biết rằng không phải nhờ những của chóng hư nát như vàng hay bạc mà anh em đã được cứu thoát khỏi lối sống phù phiếm do cha ông anh em truyền lại.

19 Nhưng anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Ki-tô.

20 Người là Đấng Thiên Chúa đã biết từ trước, khi vũ trụ chưa được dựng nên, và Người đã xuất hiện vì anh em trong thời cuối cùng này.

21 Nhờ Người, anh em tin vào Thiên Chúa, Đấng đã cho Người trỗi dậy từ cõi chết, và ban cho Người được vinh hiển, để anh em đặt niềm tin và hy vọng vào Thiên Chúa.

Bài đọc I (Sách Công vụ Tông đồ) cho chúng ta bài giảng của Thánh Phêrô sáng ngày Lễ Ngũ Tuần, một mô hình về cách giảng đạo của Kitô giáo thời kỳ đầu cho người Do Thái. Và đây là thư của Thánh Phêrô, một bài giảng cho dân ngoại, những người không phải dân Do Thái, nay trở thành Kitô hữu. Dĩ nhiên bài giảng không hoàn toàn giống nhau. Đây là yếu tố căn bản, nền tảng trong truyền thông (tiếng Pháp viết tắt là B.A-BA), điều chỉnh ngôn ngữ cho phù hợp với đối tượng.

Tôi vừa nói bài này cho những người không phải Do Thái. Nhưng thật sự không biết bài thánh thư này được viết chính xác cho nhóm người nào. Trong đoạn đầu Thánh Phêrô chỉ nói ngài viết cho: “Những khách lữ hành đang sống tản mác trong các xứ” (1Pr 1,1) trong năm tỉnh (thuộc Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay) Pontô, Galát, Cáppađôkia, Axia và Bithynia. Điều khiến chúng ta nghĩ rằng họ không phải người Do Thái, chính câu: “Lối sống phù phiếm do cha ông anh em truyền lại” (c. 18). Thật vậy, chính Thánh Phêrô cũng là người Do Thái, không đời nào ngài nói câu ấy với người Do Thái… Ngài quá rõ lòng trông cậy của họ qua Thánh Kinh và toàn bộ cuộc sống của dân ngài hướng về Thiên Chúa biết bao. Vì thế, không thể nói với họ về một “lối sống phù phiếm”!

Nhưng nếu đối tượng không phải là người Do Thái, thì điều làm ta ngạc nhiên ngay trong đoạn này, đó là con số đầy ấn tượng những ngụ ý rút từ Thánh Kinh. Ví dụ như các câu: “Bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích” (c. 19), “Thiên Chúa là Đấng không vị nể ai”, “kính sợ Chúa” (c. 17). Sở dĩ Thánh Phêrô dùng những từ ngữ ấy không giải thích vì cử tọa đã biết trước. Từ đó tôi suy ra các Kitô hữu tiên khởi, đến từ những lương dân đã lãnh nhận các khóa giáo lý về Thánh Kinh rất nghiêm túc! Có lẽ chúng ta cũng lấy đó làm gương và giúp tạo điều kiện cho những nơi, và những cơ hội để khám phá chiều sâu của Thánh Kinh cho mọi Kitô hữu.

Ngoài ra tôi cũng rút ra hệ luận rằng, ta không thể nào hiểu Tân ước nếu cắt lìa với Cựu ước. Một ví dụ cụ thể: khi đọc lại toàn bài của thư Thánh Phêrô, tôi chú ý ghi nhận các từ ngữ, các câu rút từ Cựu ước, không kể những từ ngữ riêng rẽ… Thật là ấn tượng! Và chúng ta cũng có thể nói như thế trong toàn bộ Tân ước.

Còn một điều khác cũng gây ấn tượng mạnh trong bài đọc Chúa Nhật hôm nay, đó là sự tương đồng với các thư Thánh Phaolô. Bởi vì không ai biết rõ các thư Thánh Phaolô được viết vào thời nào - các thư Thánh Phêrô cũng thế - vì vậy tôi không dám mạo muội nói bài này là âm hưởng cho bài kia, nhưng có vài điều tương đồng rất ấn tượng. Thánh Phêrô nói: “Anh em gọi Người là Cha”, trong lúc Thánh Phaolô viết cho tín hữu Galata: “Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Áp-ba, Cha ơi!” (Gl 4,6).

- Thánh Phêrô nói: “Thiên Chúa là Đấng không vị nể ai” (c. 17) Thánh Phaolô thì phát biểu: “Vì Thiên Chúa không thiên vị ai” (Rm 2,11) hay ngài nói một cách khác mà chúng ta vẫn quen thuộc: “Không còn chuyện phân biệt Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô” (Gl 3,28). Ở đây chúng ta nghe như một âm hưởng trong Sách Huấn ca: “Vì Đức Chúa là Đấng xét xử, Người chẳng thiên vị ai” (Hc 35,12).

- Thánh Phêrô nói: “Anh em … đã được cứu thoát … nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Ki-tô”. Trong thư gửi tín hữu Êphêsô, Thánh Phaolô viết: “Trong Thánh Tử, nhờ máu Thánh Tử đổ ra chúng ta được cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi theo lượng ân sủng rất phong phú của Người”. (Ep 1,7)

- “Người là Đấng Thiên Chúa đã biết từ trước, khi vũ trụ chưa được dựng nên, và Người đã xuất hiện vì anh em trong thời cuối cùng này” (c. 20) đó là lời Thánh Phêrô, nhưng chúng ta có cảm tưởng như đang nghe Thánh Phaolô nói: “Người cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu: thiên ý này là kế hoạch yêu thương Người đã định từ trước trong Đức Ki-tô”. (Ep 1,9) … và tôi thiết tưởng chúng ta có thể tiếp tục so sánh như thế giữa các thư Thánh Phêrô và Thánh Phaolô.

Để kết thúc, tôi xin trở lại hai cách trình bày của Thánh Phêrô có thể đụng chạm đến chúng ta, nếu không đặt chúng vào ngữ cảnh Thánh Kinh.

Trước hết, cụm từ “kính sợ Thiên Chúa”. Điều này có một ý nghĩa rất đặc biệt trong Thánh Kinh, chính bởi vì Chúa mặc khải cho dân Ngài như một người cha. Hãy nhớ đến câu sau đây: “Như người cha chạnh lòng thương con cái, CHÚA cũng chạnh lòng thương kẻ kính tôn” (Tv 103,13). Kính sợ Thiên Chúa không phải là sợ hãi, nhưng là một thái độ giữa cha với con, bằng tình thương, kính trọng, tôn sùng, và một lòng cậy trông hoàn toàn. Thánh Phêrô nói rõ: “Nếu anh em gọi Người là Cha, thì anh em hãy đem lòng kính sợ mà sống cuộc đời lữ khách này” (c. 17). Thật là lôgíc: anh em gọi Ngài là Cha, vậy thì hãy sống như một người con. Bây giờ chúng ta hãy đọc trọn câu: “Thiên Chúa là Đấng không vị nể ai, nhưng cứ theo công việc mỗi người mà xét xử. Vậy nếu anh em gọi Người là Cha, thì anh em hãy đem lòng kính sợ mà sống cuộc đời lữ khách này”. Theo chứng cứ câu Thánh Phêrô nhấn mạnh: “Thiên Chúa là Đấng không vị nể ai”, chúng ta có thể đoán rằng, trong số Kitô hữu mới này, đến từ dân ngoại, có người mặc cảm đối với những Kitô hữu gốc Do Thái. Thánh Phêrô muốn làm cho họ an tâm: ngài nói một cách thực tế rằng: anh em là con như những anh em khác, hãy cư xử như những người con, đơn giản thôi.

Cụm từ thứ hai có thể đụng chạm đến chúng ta: “Anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết… Đức Ki-tô” (c. 19). Tôi cố tình trích ngắn gọn câu ấy có thể làm các bạn khó chịu. Chúng ta bị cám dỗ nhìn vào đó như một cuộc mặc cả đáng sợ, không rõ giữa ai với ai. Tuy nhiên, nếu tôi đọc cả đoạn văn của Thánh Phêrô, tôi khám phá ra hai điều.

Thứ nhất, không có sự mặc cả, sự cứu độ là “nhưng không”, là một “ân huệ”, tức là một món quà từ Thiên Chúa. Thánh Phêrô cố gắng nói rõ: “Không phải nhờ những của chóng hư nát như vàng hay bạc” (c. 18), đó là một cách nói “nhưng không”. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Côlôxê nói: “Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người” (Cl 1,19).

Thứ hai, Thánh Phêrô không nhấn mạnh vào điểm chúng ta thường làm. Máu của Con Chiên tinh tuyền vô tì tích, là máu đổ ra trong Lễ Vượt Qua, có nghĩa là sự giải thoát Ítraen ra khỏi mọi hình thức nô lệ. Máu ấy loan báo công trình thường trực mà Thiên Chúa cứu độ dân Ngài. Vì thế, đối với một độc giả quen với Cựu ước, đây là cách nhắc lại ngày lễ, một cách nào đó nhắc đến ngày lễ được giải thoát; đối với chúng ta không hẳn là thế. Tuy nhiên, theo Thánh Phêrô, sự cứu độ vĩnh viễn được hoàn tất nơi Chúa Giêsu Kitô, kể từ nay anh em bước vào một cuộc sống mới (vùng đất hứa đã loan báo khi xưa). Sự giải thoát chính xác nằm ở điều này: bạn kêu cầu Chúa là Cha. Lúc bấy giờ, chúng ta hiểu rõ hơn câu sau đây: “Anh em đã được cứu thoát khỏi lối sống phù phiếm do cha ông anh em truyền lại”.Lối sống phù phiếm' không đi tới đâu, đối lại với đời sống vĩnh cửu. Kể từ nay vì Người Con đã sống làm người với lòng cậy trông đến cùng, thì tất cả nhân loại cũng đã tìm được con đường trong thái độ của nghĩa tử, tìm lại con đường của “cây sự sống”, như hình ảnh trong Vườn Địa đàng. Thánh Phaolô có thể nói: từ thái độ sợ hãi, ngờ vực của người nô lệ, anh em bước sang thái độ kính sợ nghĩa tử, đó là thái độ của những người con đối với Cha.

Tác giả: Marie-Noëlle Thabut
Nguồn: L’ intelligence des Ecritures, Socéval Editions
Dịch giả: E. Máccô Lương Huỳnh Ngân