Du lịch Thánh Kinh (10)
(tiếp theo)
Chương V: Lưu đầy Babylon (587 -538) 
“Trên bờ sông Babylon,
Ta ngồi ta khóc vì thương nhớ Sion!”
Câu thánh ca quen thuộc nói lên một phần trăm ngàn lần nỗi thống khổ ê chề trong thời kỳ bi đát nhất của lịch sử dân Israel. Không ngờ, đây lại là thời gian phong phú nhất về mặt trước tác Thánh Kinh.
Chúng ta thử:
- Quay lại cuốn phim Lưu Đày.
- Tìm hiểu các Ngôn Sứ thời ấy.
- Đi thăm làng Văn Hóa Lưu Đày.
I. Quay lại cuốn phim Lưu Đày
Tháng 7 năm 587: Sau một năm trời bao vây, quân đội Babylon mới vào được thành Giêrusalem, phá thành và đốt đền thờ. Vương quốc Giuđa đến ngày tận số.
1. Mười năm điên rồ: 597 – 587
Thực ra, Nabucôđônôsô, vua Babylon, đã chiếm được Giêrusalem ngay từ năm 597. Vua chỉ đòi nộp thuế nặng, bắt một số dân đi lưu đày (trong đó có ngôn sứ Êdêkien) còn Giêrusalem vẫn có vua cai trị.
Tưởng đã là bài học thích đáng? Cũng hy vọng thế. Nhưng vì các Ngôn Sứ giả mê hoặc, ru ngủ, cho là “Bĩ cực thái lai”, nên họ cứ ăn chơi xả láng, sống 10 năm điên rồ: sống vô tư, giao ước với Ai Cập chống lại Babylon.
Tại Giêrusalem, Giêrêmia ngôn sứ giảng nên phục tùng Babylon. Theo ông, điều yếu không là tự do hay bị trị, mà là công lý và tự do giữ đạo, phải thực thi công bình. Ông bị kết tội “phản quốc”, bị ném xuống giếng đầy bùn!
Tại Babylon, Êdêkien ngôn sứ cũng một luận điệu như thế, và chẳng ai nghe! Họ lén lút may cờ, làm vòng hoa, để đón đoàn quân giải phóng… Năm 587, đoàn quân đến thật, nhưng không để giải phóng, mà để đem tù binh tới – là ngợm chứ không là người – những xâu người tiều tụy, tay bị cùm chân bị xích, kẻ đi cuối cùng bị móc mắt là ông vua của họ!
2. Phép lạ lưu đày
Đi lưu đày là mất mọi sự làm nên đời sống:
- Mất đất, là dấu chỉ phúc lành của Thiên Chúa,
- Mất vua, là bàn tay chuyển phúc lành của Thiên Chúa tới,
- Mất đền thờ, là nơi Thiên Chúa hiện diện.
Cùng tận, Israel đã mất Thiên Chúa phần nào. Thời ấy, người ta tin rằng mỗi dân đều có thần hộ thủ. Vậy thần Đức Chúa của Israel đã bị thần Mardouk của Babylon đánh bại: Chúa bại trận thì thờ ích gì?
Phép lạ lớn lao của lưu đày, là tai ương đó thay vì là tai hại cho lòng tin Israel, thì lại làm cho lòng tin ấy giựt mình chỗi dậy và được thanh luyện. Đó là nhờ công lao của các Ngôn Sứ, như Êdêkien và một đồ đệ của Isaia gọi là Isaia II. Đó cũng là thành quả của các Tư Tế, giúp và dạy dân đọc lại các truyền tụng để khám phá cơ sở cho niềm tin của mình. Không còn đền thờ và tế lễ, thì vẫn có thể họp nhau ngày Sabát để tôn thờ Chúa và suy niệm Lời Ngài.
Không còn vua, nhưng Đức Chúa không là vua độc nhất của Israel đó sao? Không còn đất, thì việc cắt bì, dấu chỉ giao ước, mở rộng biên giới cho chiều hướng tinh thần, vẫn còn đó… Thế là, giữa cảnh lưu đày, đã khai sinh ra cái gọi là Do Thái giáo, một thể thức sống đạo Do Thái, thời Chúa Giêsu và thời ta.
3. Trên bờ sông Babylon
Tình trạng người Do Thái lưu đày thế nào? Sao trả lời được? Họ bị giao động tâm lý và luân lý kinh khủng, ấy là không kể đến đau khổ về thể xác. Thời đó, lưu đày là phụ nữ bị hiếp, trẻ con bị xẻ đôi, binh sĩ bị giết, lột da hay móc mắt… Ta đọc Thánh Vịnh 137, còn âm vang đó!
Tuy nhiên ta chớ lầm tưởng lưu đày Babylon là như trại tập trung, cải tạo… Dân Israel được tự do sinh sống đi lại, tuy phải làm cỏ vê… Ngôn Sứ Êdêkien giảng đạo thoải mái. Có người làm ăn phát đạt, khi hết lưu đày, xin ở lại.
Thành phố Babylon với phong cảnh và tập tục rất hấp dẫn và đánh động lòng người Do Thái. Thành là một hình vuông vĩ đại, mỗi chiều 13 cây số. Sông Euphrate xẻ thành làm hai. Con đường chính là thánh lộ bắt đầu từ cửa đền thờ thần Íchta, xây bằng gạch men nhiều màu, kéo thẳng đến tháp Ziggura (tháp có nhiều tầng), cũng gọi là tháp Babylon hay tháp Babel. Hàng năm, vào dịp nguyên đán, họ được nghe những thi ca về việc sáng tạo trời đất (Enouma Elish, anh-hùng-ca Gilgamesh…), mô tả thần Mardouk dựng nên con người thế nào, thần Êa đã cứu loài người khỏi hồng thủy làm sao… Họ nghe cả những lẽ khôn ngoan của hiền nhân về thân phận con người… Như thế, họ được tiếp xúc trực tiếp với tư tưởng phổ cập khắc Trung Đông, khiến họ suy nghĩ nhiều.
4. Vị “Mêsia” Syrus
Ngày 29.10.539, “không một tiếng nổ”, chắc chắn nhờ sự đồng tình của dân thành Babylon nữa, Syrus, vua Ba tư, chiếm được Babylon.
Nguyên ông Syrus là vua một tỉnh trong nước thượng vị Mêđê, rồi ông lên nắm chính quyền Mêđê năm 550. Sự thăng tiến mau lẹ của ông được dân Do Thái đang lưu đày để tâm theo dõi: phải chăng đây là vị thiên sai - tiếng Hípri gọi là Mêsia – đã đến để giải phóng họ?
Quả thế, năm 538, từ dinh thự nghỉ hè Ecbatane, ông đã ký sắc lệnh cho người Do Thái được hồi hương. Ông còn cho tiền “Bồi thường chiến tranh” nữa, gọi là để tái thiết xứ sở. Phải chăng đó là chính sách khoan hồng tự nhiên của ông hay là một đòn chính trị cao tay? Có lẽ cả hai. Israel sẽ là tiền đồn và thành lũy nhiệt tâm và trung tín của ông để chống lại Ai Cập. Dù sao đi nữa, đối với người Do Thái, đây chấm dứt cảnh lưu đày. Đại đa số trở về với “đất nước” của mình.
5. Sinh hoạt Văn Học
Đi lưu đày, người Do Thái mất mọi sự, trừ các văn kiện truyền thống của tiên tổ. Họ đem ra đọc và say mê đọc.
Hai Ngôn Sứ Êdêkien và Isaia II giảng đầu và cuối thời lưu đày. Các Tư Tế thu thập các bản luật đã chép tại Giêrusalem vào cuối thời vương quốc: luật thánh thiện (Lv 17-26) bổ sung sau thời lưu đày sẽ thành sách Lêvi.
Nhất là để nâng đỡ lòng tin tưởng của dân, các Tư Tế lại dẫn họ về nguồn gốc mình một lần nữa. Việc đọc lại lịch sử này được mệnh danh là Truyền Thống Tư Tế, là tài liệu thứ bốn cấu tạo nên Ngũ Thư. Những yếu tố hợp thành đã đủ, chỉ còn sắp xếp, dung hợp thành một cuốn, sẽ thực hiện vào năm 400.
Thất bại, đau khổ, cả việc tiếp xúc với tư tưởng Babylon rồi Ba Tư thúc giục các hiền nhân Do Thái đào sâu suy nghĩ về kiếp nhân sinh. Kết quả thu lượm trong những thế kỷ sau lưu đày, là các tác phẩm như sách Gióp.
Ta cũng dễ hiểu rằng kinh nguyện của tín đồ Do Thái cũng mang âm điệu mới. Nhiều Thánh Vịnh (chẳng hạn Tv 137 hay Tv 44; Tv 80; Tv 89) có thể đã phát sinh như một lời mời gọi trở về với Thiên Chúa thành tín.
Tại Giêrusalem, một số người Do Thái không phải đi lưu đày, cũng vang lên những Ai Ca, hay gán lầm cho Giêrêmi.
II. Các Ngôn Sứ thời lưu đày
Thời lưu đày có hai ngôn sứ: Êdêkien ngay thời đầu, Isaia II vào thời cuối. Cả hai như hai cái thúng hứng chịu mọi gian nan cơ cực vì dân, với dân và cho dân.
1. Êdêkien
Ông là thành phần phát lưu đợt nhất năm 597. Tại Babylon, 10 năm liền ông cùng một lý luận y như ông Giêrêmi tại Giêrusalem: ông than trách dân về tội của mình (Ed 3-12) và của các nước (25-32).
Từ năm 587, khi tai ương giáng xuống và dân mất hết tin tưởng, thì lời giảng của ông trở thành sứ điệp hy vọng: Thiên Chúa sắp khôi phục dân Ngài (33-39). Ông xác tín điều đó đến độ ông mô tả, như được mục kích, cảnh Giêrusalem huy hoàng, trong tương lai được Thiên Chúa biến dạng (40-48).
Con người kỳ khôi
Ông không thể làm gì như mọi người được! Ông có những thị kiến như các tiền nhiệm ông, nhưng thị kiến của ông kỳ khôi lắm: Đọc ơn gọi của ông (chương 1) ông có những hành vi kỳ khôi: Cạo trọc đầu (xuống tóc) – chương 4 & 5 – ông có cả những ngôn từ thô tục, những hình ảnh so sánh nôm na, đĩ thõa lật trôn banh háng, lính quèn cũng phải đỏ mặt (chương 16 hay chương 23)!
Nhưng chính cái quá trớn ấy lại gây xúc động: ông có thể là thi sĩ tự tình hết xẩy! Nghe ông chống đối ông hoàng thành Tyr (chương 28) rồi đem so sánh với St 2-3 (x. Tob / Bj): Hai bên tận dụng các thần.
Cha đẻ của Do Thái giáo
Sứ điệp ông sẽ là cơ sở Do Thái giáo như là cho một kiểu sống trước Thiên Chúa và với mọi người, như sẽ thành hình sau thời lưu đày.
Ông có ý thức rất sắc nhọn về sự thánh thiện của Thiên Chúa, vì thế theo ông, điều đó phải biểu lộ bằng toàn thể con người, là Tư Tế, ông rất chú trọng lễ nghi, phụng vụ, chữ đỏ.
Ông cũng cảm hứng theo “Luật thánh thiện” (Lv 17-26) do các Tư Tế soạn thảo ở Giêrusalem trước lưu đày.
Ông còn nhấn mạnh giá trị nội tâm của tôn giáo; lý tưởng của ông sẽ nuôi dưỡng lòng đạo đức của “các người nghèo của Giavê”; có nguy cơ là “đạo xuất thể - religion désincarnée – không?” Không, vì ông đề cao lễ nghi chữ đỏ: Con người phải phụng thờ Thiên Chúa cả trong tâm hồn cả ngoài cơ thể. Cái đáng sợ là lễ nghi vô hồn!
Đọc vài đoạn Êdêkien
Thiên Chúa hiện diện cách thánh thiêng! Thiên Chúa ngự trong đền thờ của Ngài. Nhưng ông Natan trước (2 Sm 7), rồi các Ngôn Sứ khác sau, đều quả quyết Thiên Chúa không muốn ngự cách cụ thể nơi nào, mà chỉ cách thiêng liêng nơi dân trung thành của Ngài thôi. Sống giữa lưu đày, ông chứng thực điều đó.
Đọc Ed 9, 3; 10,4-5; 11,22-23, rồi Ed 1, cuối cùng Ed 37,26-28; 43,1-12. Qua những hình ảnh kỳ dị đó, ông muốn nói gì? Thiên Chúa hiện diện ở đâu? Thế nào? (Luca có lẽ nghĩ đến Ed 11, 23; khi nói Chúa lên trời trên núi phía đông, là núi Cây Dầu).
“Ta là mục tử nhân lành” Ed 34 và 37,15-18. Những ai là mục tử dân? Họ sống thế nào? Ai mới là mục tử thứ thiệt?
Đức Giêsu sẽ cảm hứng theo những bản văn này (Mt 18,10-14; Lc 15,1-7; Ga 10). Ai là mục tử? Sức mạnh và ý nghĩa nào khi Đức Giêsu nói?
“ Này, đây Ta làm mới lại tất cả” Ed 33,1-11 và 37,1-14. Dân đi đày thất vọng: Họ như những bộ xương phơi khô… Thiên Chúa loan báo gì trong thị kiến chương 37? Thiên Chúa tái tạo dân Ngài bằng Lời của Ngài và ban sự sống bằng Thánh Thần cách Ngài. Cái đó có thể nói gì hôm nay với ta?
Ed 36,16-38 và 47,1-12. Thánh Thần làm gì? Từ đâu mà đến? Ed 31,31-34 nêu rõ: Trong cái gì? Những đoạn này có giúp hiểu Ga 7,37-39 và 19, 34 hay Ga 5,22-25?
2. Isaia II “Tiếng người kêu” (Is 40-55)
Người đi đày, bị khinh rẻ, nhục mạ, sau khi đã mất mọi sự, bây giờ thì lao công không hy vọng, nhân công ngoại lai… Thế mà cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa đã làm những việc kỳ diệu, âm điệu xác tín, đem hy vọng đến cho mọi người, đó không ngạc nhiên sao?
Người môn đệ Isaia ở đâu, mà ẩn mình đàng sau sứ mạng, tự xưng mình chỉ là tiếng người kêu thôi? Trong niềm tin vào Thiên Chúa, Thiên Chúa luôn là “Đấng-cứu-ta-khỏi-nhà-nô-lệ” thời Xuất Hành, Ngài vẫn có toàn quyền cứu ta, vì Ngài là Đấng Sáng Tạo, Ngài sẽ cứu, vì Ngài thành tín và yêu thương ta hơn một bà mẹ.
Trước khi đọc một bản văn quan trọng, ta ghi chép vài chủ đề lớn của vị Ngôn Sứ kích động cảm tính này.
Tin Mừng
Ba lần vang lên Tin Mừng này là Thiên Chúa sắp đến lập vương quyền của Ngài, sắp tỏ mình là vua đích thực, hủy diệt sự ác, bất công, đau khổ (40, 9; 41, 27; 52, 7. Đọc thêm 35,3-6 đồng thời đó). Bằng làm những dấu lạ, bằng hô to Tám cái Phúc, Đức Giêsu sẽ tuyên bố rằng, nơi Ngài sẽ thực hiện tất cả cái đó: Các người nghèo sẽ thật có phúc, vì từ nay, họ hết nghèo rồi!
Tình âu yếm mẫu tử của Thiên Chúa (43,1-7; 49,14-16)
Không gì đẹp hơn, thi vị hơn, nói về Tình âu yếm của Thiên Chúa như một bà mẹ nâng nui con trên đầu gối, cho con bú sữa no!
Cuộc Xuất Hành mới
Giải phóng lần này được mô tả như một cuộc Xuất Hành thứ hai còn kỳ diệu hơn lần thứ nhất. Chẳng hạn, đọc 40, 3; 41,17-20; 43,16-23; 44,21-22; 48,17-22… (Bj 40, 3; 52, 12). Các tín hữu đầu tiên sẽ cắt nghĩa đời sống Chúa Giêsu và của chúng ta dưới ánh sáng của cuộc Xuất Hành.
Vị “Mêsia” Syrus
Đây là một thí dụ giải thích lịch sử rất đẹp. Syrus chiếm Babylon để bành trướng uy lực. Chính ông coi đó là lệnh thần Mardouk của Babylon! Còn theo Isaia, thì Thiên Chúa đã xức dầu tấn phong ông (41,1-5.25-29; 42,5-7; 44,27-28; 45,1-6.11-13; 48,12-18).
Người tôi tớ Giavê (Is 52, 13 – 53, 12)
Bản văn này là cao điểm sứ điệp của ông. Lối giải thích bị tranh luận nhiều. Ta theo Tob.
- Thiên Chúa loan báo vinh quang đang chờ người tôi tớ 52,13-15.
- Các dân đã bắt hại người tôi tớ, phải thú nhận mình đã lầm 53,1-6.
- Suy nghĩ về số phần người tôi tớ bị xử oan 53,7-9.
Lời nguyện, theo Tob:
Lạy Chúa, Chúa hài lòng, gian khổ đã nghiền nát tôi tớ: xin biến thành hy lễ đền tạ, để tôi tớ được trường thọ thấy nhiều con cháu, và thánh ý Chúa thành tựu nơi tôi tớ Ngài.
Lời nguyện này được chấp nhận 53,11-12.
Người tôi tớ ấy chắc hẳn là hiện thân của dân Israel, bị hạ nhục, khinh chê, tử hình. Gian khổ đè nặng trên mình, không thể làm gì hết, trừ cho nó một ý nghĩa!
Nhưng, cái chết của người tôi tớ đã biến đổi thế nào? Kết cục làm sao? Thái độ người tôi tớ giúp các bổn đạo tiên khởi hiểu về Đức Giêsu:
- Ý nghĩa sứ mệnh của Ngài (Tob 53, 12),
- Cái chết vì muôn dân (Mc 10, 45; Rm 4, 25; Mt 26, 28),
- Mầu nhiệm Vượt Qua (Philitin 2,6-110).
III. Tham quan làng Văn Hóa Lưu Đày
Đi lưu đày, người Do Thái mất mọi sự, chỉ đem theo được một số giấy tờ, tài liệu quan trọng. Ở đây, chúng ta đặc biệt tham đọc hai cuốn sách:
1. Sách Lêvi
Một sách đầy những cấm chế, kiêng kỵ dị đoan! Phải can đảm lắm mới rảo qua hết được: Toàn những luật lệ tỉ mỉ, kỳ cục, chán chường, vậy mà cứ nói đi nói rồi nhắc lại hoài! Tuy nhiên:
- Lễ nghi rất cần, bởi con người có hồn và có tấm thân: Tâm tình phải được diễn tả ra rngoài, và cử chỉ bên ngoài phải bộc lộ tâm tình bên trong! Như bà chủ tiệc lo sắp đặt bàn ăn, tất cả theo phép lịch sự và xã giao, để nói lên là bà quý trọng khách. Người giúp bàn cũng làm theo nghi thức, nhưng thường một cách máy móc.
Khi ta sửa soạn đi gặp Thiên Chúa, ta cần có nghi thức. Có người bảo đó là “y phục cho tâm hồn”. Đối với người Do Thái, đi gặp Thiên Chúa là việc trọng đại nhất, là việc duy nhất giá trị. Các nghi lễ càng tỉ mỉ bao nhiêu càng biểu hiện tâm tình được sống trước nhan Đức Giavê ba lần thánh.
- “Hãy nên thánh vì Ta là Đấng Thánh”. Rất nhiều nghi lễ văn hóa chúng ta ngày nay. Thế nhưng, cái nó diễn tả mới là quan trọng: Thiên Chúa hiện diện và ta đang đứng trước tôn nhan! Danh Giavê được nhắc đi nhắc lại (hơn 350 lần), còn “Đứng trước” trở đi trở lại như một điệp khúc (hơn 50 lần).
Cứ đọc chương 19: Câu “Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa ngươi” là bật đèn xanh cho mọi luật: yêu tha nhân (c.18), trả công người thợ (c.13), đời sống hàng ngày. Chính trong tình yêu Thiên Chúa, Tín Hữu tìm ra cách sống ở đời với anh em.
Thiên Chúa ấy là Đấng Thánh, như là Đấng khác hẳn ta. Ngài là Thiên Chúa hằng sống, là chính Sự Sống.
- “Máu, là Sự Sống” (Lv 17, 11.14). Máu là sự thánh vì là sự sống đến từ Thiên Chúa và đang chảy trong các huyết quản ta. Không được uống máu con vật (phương chi là máu người): Như là để tăng thêm sự sống cho mình, trong khi đó chỉ Thiên Chúa mới là chủ sự sống mà thôi. Ngược lại, tế máu trong các hy lễ, là thừa nhận hồng ân sự sống Thiên Chúa ban cho ta. Khi tế lễ, không là dâng con vật đã bị giết – đó chỉ là xác chết – mà dâng máu nóng (máu sống), như là chính sự sống của vật dâng: Dâng chính mạng sống! Đọc thư Hípri.
Lưu ý: quan hệ tình dục là được tham dự vào việc truyền thông sự sống bắt nguồn từ Thiên Chúa. Tình dục có tính cách thánh (đạo vợ chồng).
Thành phần sách Lêvi
Bộ sách luật về thánh thiện (Lv 17-26) đã được biên soạn ở Giêrusalem trước lưu đày. Cùng lúc đó, tài liệu về sách Nhị Luật, từ bắc đưa vào, cũng được ghi chép, chú trọng đến việc phụng tự, vì Thiên Chúa là Thánh, là Khác hẳn.
- Luật tế lễ (Lv 1-7) và luật trong sạch (Lv 11-16) được viết sau lưu đày, cũng như luật về ngày lễ (Ds28-29). Lv 16 nói về Ngày Xá Tội (Yom Kippour): Mỗi năm một lần, Thượng Tế mới được vào nơi Cực Thánh để dâng hương, xin ơn tha tội. Tác giả thư Hípri cảm hứng nghi lễ này để trình bày hy lễ của Đức Kitô, là chính “Người chịu tội oan” (bouc émissaire).
Sự thánh – Tư Tế - Tế Lễ
- Sự thánh: Trong mọi tôn giáo, cái gì dành cho Thần Linh đều phải tách khỏi cái trần tục (pro-fanum, ngoài đền thờ), dành riêng cho Thiên Chúa, vì là Đấng Thánh, Đấng Khác hẳn!
- Tư Tế: Lo việc thánh, cũng phải tách khỏi trần tục, để vào trong “Cõi thánh”, chuyên viên phụng tự, phải được “hiến thánh”, bỏ sinh hoạt trần thế, vào sống trong đền thờ, lo việc cao cả nhất là tế lễ.
- Tế Lễ: Là làm việc thánh (sacrifice: sacrum-facere) Tế lễ không là hủy hoại mà là “Biến đổi”: Biến của trần tục ra của thánh, đưa vào “Cõi thánh”, và đổi của trần tục lấy của thánh là: Ơn tha thứ, giáo huấn, phúc lành.
Sạch hay dơ?
Dơ hay sạch, đối với ta, là quan niệm luân lý. Trong Thánh Kinh và trong các tôn giáo, đó là những ý niệm rất gần với “cấm kỵ” hay sự thánh. Là dơ khi đụng tới quyền lực huyền bí dù tốt hay xấu phải làm một nghi lễ để “Thanh lọc” khỏi bị hãm hại.
Một vài bệnh bị coi là “dơ”, cho là bởi tà ma (lậu, cùi…).
2. Sách lịch sử Tư Tế
Đi lưu đày, Israel mất tất cả những gì làm nên một dân một nước, lại còn nguy cơ bị đồng hóa và mất gốc. Ai giúp họ đứng vững trước thử thách? Thưa, ngôn sứ Êdêkien và Isaia II, và nhất là các Tư Tế, một tập thể có tổ chức chặt chẽ tại Giêrusalem, đạo đức, đầy uy tín…
Lịch sử Tư Tế, cũng gọi là Truyền Thống Tư Tế, ký hiệu chữ P, khai sinh trong bối cảnh đó. “Ôn cố tri tân”. Các Tư Tế đọc lại lịch sử cho dân nghe, để tìm ra câu đáp cho những khó khăn hiện tại: Sao Đức Chúa làm thinh? Sao tin được có Đức Chúa giữa thế giới Babylon đang thờ thần Mardouk là Tạo Hóa?... Truyền Thống Tư Tế cũng mời gọi chúng ta hôm nay suy nghĩ, tìm kiếm, giữa tình thế mới, những dấu chỉ thời đại, những đáp số cho các thắc mắc ngày nay. Lời hứa của Thiên Chúa vẫn luôn giá trị: Phải hành động cho lời hứa được thực hiện.
Vài nét riêng của Tư Tế
Văn thể khô khan, không biết kể truyện, chỉ thích con số và liệt kê hay lập đi lập lại…
Ngữ vựng chuyên môn, phụng tự. Có nhiều gia phả, vì là quan trọng đối với dân lưu đày, mất gốc. Phụng tự là nhất: Ông Môisê tổ chức, ông Aaron điều hành.
Tư Tế đảm bảo lòng tin và sự tồn tại của dân, thay thế vua và Ngôn Sứ (khác với Giavít và Êlôhít). Luật thường đặt trong các tường thuật, liền sau các biến cố lịch sử để nói lên ý nghĩa. Như, Luật sinh sản (St 9, 1) trong chuyện đại hồng thủy, Luật về lễ Vượt Qua, sau tai ương thứ mười (Xh 12, 1).
Vì các nét riêng đó, mà Truyền Thống P rất dễ nhận diện.
Đoạn văn chìa khóa (St 1, 28)
“Thiên Chúa chúc lành và phán: Hãy sinh sôi, nảy nở, cho đầy mặt đất, khắc phục nó, và thống trị chim trời cá biển và mọi loài trên mặt đất”.
Lời chúc lành đặc biệt nói lên niềm tin của các Tư Tế lưu đày. Năm động từ (sinh sôi, nảy nở, cho đầy, khắc phục và thống trị) trái ngược với cảnh lưu đày. Chúng diễn tả ý định của Thiên Chúa sáng tạo, ý định sẽ thực hiện ngày nào đó, chấm dứt đau khổ và lưu đày.
Lời chúc lành được lặp lại 5 lần cho từng giai đoạn: Hồng thủy (St 8, 17 và 9,1-7), Abraham (17, 20), Giacóp 1, 7 không còn phải lời hứa mà là thực hiện, và cứ thế trong suốt giòng lịch sử.
Vòng bay lượn, lướt trên Tư Tế (P)
Giống như Giavít (J), Tư Tế (P) khởi sự từ sáng tạo đến ông Môisê qua đời (Nl 24, 7). Ta đọc:
- Giao ước với ông Noe và hồng thủy (St 6-9). Cả hai Giavít và Tư Tế lẫn lộn nhau trong chuyện đại hồng thủy (Tob/ Bj). Cả hai theo sát truyện lụt mà anh-hùng-ca Gilgamesh kể. Tư Tế ghi rõ chiếc tàu có ba tầng như đền thờ vua Salômôn xây: Chỉ trong đền thờ mới được cứu sống (6, 16).
Câu truyện kết thúc bằng Giao Ước với ông Noe (9,8-17) con cháu và địa cầu. Như thế Giao Ước có tính cách đại đồng, muôn dân đều có chỗ trong kế hoạch của Thiên Chúa.
- Giao Ước với Abraham (St 17). Luật cắt bì đi liền với chuyện Giao Ước, gồm 4 diễn từ, mà tư tưởng ngày càng rõ: Abraham phải đi trước mặt Ngài, phải liêm khiết không tì vết, cắt bì là dấu hiệu riêng của Israel. Đi lưu đày, Israel nhận mình đã phạm tội, lỗi Giao Ước. Tuy nhiên, vẫn có thể trở về.
- Xuất Hành. Tư Tế nhắc lại cách cử hành cuộc giải phóng ấy: phụng tự hiện-tại-hóa cho mỗi thế hệ việc Thiên Chúa đã làm: Vượt qua biển là quyền năng của Ngài, Ngài muốn làm lại cho dân lưu đày, dễ thôi! Luật Sabát gắn liền với bánh Mana: dân có thể nghỉ ngày đó không sợ: Thiên Chúa không để họ chết đói!
- Giao Ước Sinai. Giao Ước này tối hệ trọng cho kẻ đang lưu đày, nhưng nó cho một nghĩa khác. Không có việc ký kết hai bên (như Giavít và Êlôhít nói). Thiên Chúa tự ý loan báo Israel sẽ là vương quốc Tư Tế, là dân thánh. Israel không có vua như các nước, mà có Tư Tế. Thiên Chúa không ban luật mà là những chỉ thị, nhất là để xây đền thờ (Xh 25-27), lập hàng Tư Tế (28-29) và phụng tự. Luật duy nhất là luật Sabát (Xh 31,12-17).
Đoạn văn về sáng tạo (St 1,1 – 2,4). Lưu ý những lặp đi lặp lại như:
- Thiên Chúa phán: 10 lần, nhắc đến 10 giới răn?
- Thiên Chúa làm: nhiều động từ nhưng cùng nghĩa.
- Qua một buổi chiều: Chia việc sáng tạo ra 6 ngày, và chấm dứt ngày Sabát, là lối trình bày theo phụng vụ, chứ không theo khoa học.
- Ta nên biết: thời gian biên soạn là thời gian lưu đày. Thế mà khẳng định: “mọi sự đều tốt đẹp” như một điệp khúc!
- Cũng đừng quên: từ vầng sáng là từ phụng vụ: đèn sáng trong đền thờ. Mặt trời không là thần như ở Babylon, mà là dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện.
- Nên nhớ: Đây là một thi ca phụng vụ. Không là bài học về lịch sử hay khoa học. Đúng là một thi ca, hát lên niềm tin của các Tư Tế giữa cảnh lưu đày. Đây là thi ca của Thiên Chúa giải phóng dâng lên Thiên Chúa sáng tạo.
Thiên Chúa không có tên
Đặt tên cho ai là có quyền trên họ. Vậy ai dám đặt tên cho Thiên Chúa? Thiên Chúa không nói tên mình ra (St 32, 23). YHWH không là tên, là dấu chỉ Thiên Chúa thôi. Dân Do Thái ghi 4 phụ âm này trên quốc kỳ, trong hội đường… Không đọc là Yahwêh, Giavê mà là Ađônai như là Đức Chúa. Chữ El (số ít) và Êlôhim (số nhiều) là tên chung các thần.
(còn tiếp)
Etienne CHARPENTIER
Trích “Du lịch Thánh Kinh”, tr. 97-113.
-------------------------------------------------------
* Bài liên quan:
.jpg)