Suy niệm Bài đọc 2 - Chúa Nhật XII thường niên năm A - Rm 5, 12-15 - Ân sủng của Thiên Chúa

0 /5
1 người đã bình chọn
Đã xem:  | Cật nhập lần cuối: 2026-06-20 10:36:00  | RSS

BÀI ĐỌC 2 CN XII TN Năm A (Rm 5, 12-15) 21/07/2026

'Không phải tội phạm thế nào, thì ơn ban cũng thế ấy đâu'

Trích thư Thánh Phao-lô gửi tín hữu Rô-ma

12 Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội.

13 Trước khi có Lề Luật, đã có tội lỗi ở trần gian. Nhưng nếu không có Luật, thì tội không bị kể là tội.

14 Thế mà, từ thời A-đam đến thời Mô-sê, sự chết đã thống trị cả những người đã không phạm tội bất tuân lệnh Thiên Chúa như A-đam đã phạm. A-đam là hình ảnh Đấng sẽ tới.

15 Nhưng sự sa ngã của A-đam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa. Thật vậy, nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô, còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người

Chúng ta đang đứng trước một bài khó nhất Thánh Kinh! Sau đây là vài hướng tìm hiểu để đọc tài liệu này. Trước hết, có lẽ chìa khóa giúp mở ra nằm trong câu cuối, nói về ân sủng: «Ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô » (c.15). Trước đó, cũng trong thư gửi dân thành Rô-ma thánh nhân cũng đã nói: « Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta » (Rm 5,5). Thế nhưng ân sủng không phải là một món quà hữu hình mà là một quan hệ: đó là quan hệ yêu thương giữa Thiên Chúa và nhân loại. Lúc nào cũng khó để không nói ân sủng như một vật sở hữu chúng ta có được và cũng không nên để cụm chữ «ân huệ được trao ban» khiến cho chúng ta nghĩ ân huệ như một đồ vật được chuyển từ tay người này sang tay người khác. Chắc chắn đó không phải là tư tưởng Thánh Phaolô: ân sủng đồng nghĩa với tình yêu Thiên Chúa và chúng ta biết rằng tình yêu không phải là một vật thể, đó là mối quan hệ của hai con người thương yêu nhau.

Vì thế khi Thánh Phaolô nói: «Ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô» (c.15) ý ngài là Chúa Giêsu Kitô đã ban cho chúng ta một mối tình yêu thương cốt lõi. Nó giúp chúng ta thỏa lòng vì con người vốn được tạo ra cho mối tương quan này. Như Thánh Augúttinô nói: «Lạy Chúa, Chúa tạo chúng con cho Ngài, và bao giờ không có Chúa ngự trong chúng con, lòng chúng con không được ngơi nghỉ ». Thánh Gioan cũng nói như thế, nhưng cách khác: «Sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giê-su Ki-tô.» (Ga 17,3). Thế nhưng trong Thánh Kinh, biết yêu là giống nhau. Đời sống vĩnh cửu, đời sống ấy bắt đầu từ lúc rửa tội, đó là sống trong tình yêu Thiên Chúa.

Sách Sáng Thế nói lên điều ấy bằng một hình ảnh: «ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.» (St 2, 7). Nói rằng con người chỉ là một sinh vật sống nhờ hơi thở Thiên Chúa chính là khẳng định rằng mối hiệp thông với Ngài là điều kiện sống còn của con người.

Thế nhưng, trong vườn Êđen, Ađam và người đàn bà đã không đón nhận mối hiệp thông yêu thương ấy như một ân ban, nhưng muốn chiếm hữu nó cho riêng mình. Bị con rắn dụ dỗ với lời hứa sẽ trở nên như Thiên Chúa, họ đã sa vào ảo tưởng ấy. Mong ước trở nên «như những vị thầ » (St 3,5) nghĩ như thế cũng khá đấy: ao ước điều vô tận trong lòng người là điều lành mạnh; cũng trong sách Sáng Thế Thiên Chúa đã truyền cho con người: «Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất» (St 1,28). Nhân loại có những ước mơ điên rồ về quyền lực, về hạnh phúc, khắc phục vũ trụ và như thế chỉ đáp ứng ơn gọi của mình mà thôi. Đó không phải là tội lỗi của con người. Sở dĩ Thiên Chúa đã mớm những khát vọng ấy nơi chúng ta, vì đó là điều phải thỏa mãn; thế nhưng chỉ có Ngài mới có thể làm…

Con người, tự sức mình, không thể tạo lập mối tương quan cốt tử ấy với Thiên Chúa; vì thế có thể nói rằng nhân loại cần được cứu độ. Thiên Chúa là Đấng Siêu Việt, chỉ mình Ngài mới có thể bắc nhịp cầu qua vực thẳm ngăn cách giữa Thiên Chúa và con người. Do đó, chỉ mình Ngài mới có thể thiết lập mối tương quan tình yêu giữa Ngài và nhân loại.Tuy nhiên, con người vẫn được tự do đón nhận hoặc khước từ tình yêu Thiên Chúa trao ban. Khi mở lòng đón nhận, con người được chính Thiên Chúa lấp đầy và làm cho viên mãn. Thế nhưng, con người thường tìm cách tự cứu mình, muốn đạt tới hạnh phúc bằng sức riêng mà không chờ đợi Thiên Chúa. Chính sự khước từ ấy khiến con người xa lìa nguồn sống và rơi vào cái chết thiêng liêng.

Ađam tượng trưng cho nhân loại đi tìm sự sống ngoài Thiên Chúa; và dĩ nhiên, đó là một con đường lầm lạc. Ở đây, sách Sáng Thế còn gợi lên một hình ảnh khác: thay vì tín thác vào Thiên Chúa, con người lại hành xử như kẻ trộm, muốn chiếm đoạt các ân huệ của Ngài như bắt lấy một con mồi. Thế nhưng, làm như vậy là tự cắt đứt mối dây sự sống liên kết mình với Thiên Chúa. Đó chính là ý nghĩa của điều chúng ta gọi là «tội tổ tông» hay «tội trọng»: một sự khước từ Thiên Chúa, đưa con người đến chỗ phải chết. Thánh Phaolô không đọc trình thuật sách Sáng Thế như một bản tường thuật lịch sử về quá khứ, nhưng như một suy tư về thân phận con người mọi thời. Hoặc chúng ta chấp nhận sống nhờ hơi thở Thiên Chúa, và khi ấy đón nhận từ Ngài mối tương quan ban sự sống; hoặc chúng ta tìm kiếm hạnh phúc ngoài Thiên Chúa và chuốc lấy sự chết, vì sự sống không nằm trong quyền năng của chúng ta. Tìm hạnh phúc ngoài Thiên Chúa là một cạm bẫy, một sự điên rồ.

Để đối lại sự điên rồ ấy, Thánh Phaolô nêu lên gương Đức Kitô trong thư gửi tín hữu Philípphê: «Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã không nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa» (Pl 2,5). Chúa Giêsu sống trong sự hiệp thông trọn vẹn với tình yêu của Chúa Cha; Ngài hoàn toàn đón nhận tình yêu ấy và để cho tình yêu ấy thấm nhập toàn bộ con người mình. Chính vì thế, Ngài không hề vướng mắc tội lỗi. Như Thánh Gioan nói: «Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật» (Ga 1,14), và nhờ Ngài, những Ađam là tất cả chúng ta được phục hồi trong tình yêu của Chúa Cha. Một lần nữa, chúng ta nhận ra nơi đây mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô: vừa là Thiên Chúa thật, vừa là con người thật; trọn vẹn là người mà vẫn trọn vẹn là Thiên Chúa.

Trong Ngài, quan hệ tình yêu được tạo nên giữa Thiên Chúa và nhân loại. Ngài vừa là Thiên Chúa thu hút nhân loại về mình «Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi» (Ga 12,32) và, đồng thời Ngài là Người (có nghĩa là nhân loại), được tràn ân sủng bởi Thiên Chúa. Như bài thánh vịnh hát lên hôm nay: «Những ai nghèo hèn, xem đấy mà vui lên, người tìm Thiên Chúa, hãy nức lòng phấn khởi.» (Tv 68, 33)

Tác giả: Marie-Noëlle Thabut
Nguồn: L’ intelligence des Ecritures, Socéval Editions

Dịch giả: E. Máccô Lương Huỳnh Ngân